Cơ ngang bụng (Transversus abdominis muscle) là một cặp tấm cơ rộng được tìm thấy ở hai bên thành bụng, cùng với cơ chéo bụng ngoài (external abdominal oblique muscle) và cơ chéo bụng trong (internal abdominal oblique muscle) tạo thành các cơ vùng bụng ngoài (bên). 

Như tên gọi, các sợi cơ chạy theo chiều ngang, vuông góc với đường trắng.

.

Nguyên ủy

  • 1/3 phía ngoài (bên) của mặt trên dây chằng bẹn (inguinal ligament) và cân chậu (associated iliac fascia) của vòm chậu mu (iliopectineal arch)

  • 2/3 phía trước của mép trong mào chậu (iliac crest).

  • Cân (fascia) thắt lưng ngực giữa mào chậu và xương sườn số 12.

  • Mặt trong của 6 xương sườn phía dưới và các sụn sườn (costal cartilages) tương ứng.

Bám tận

  • Từ vị trí nguyên ủy, các sợi cơ chạy theo phương ngang qua thành bụng ngoài và tiến tới đường giữa, hướng vuông góc với đường trắng giữa.

  • Các sợi gân cơ phía dưới – mà nguyên ủy từ vòm dây chằng bẹn, qua ống bẹn (inguinal canal), và kết hợp với những sợi cân của cơ chéo bụng trong, cuối cùng bám vào mào xương mu (pubic crest) và mào lược xương mu (pecten pubis)

Dây thần kinh chi phối

  • Được điều khiển bởi dây thần kinh dưới sườn (T12), thần kinh gian sườn (T7 – T11), thần kinh chậu – hạ vị (L1) và thần kinh chậu – bẹn (L1)

Chức năng

  • Co bụng: ép chặt các tạng ổ bụng, làm tăng áp lực trong ổ bụng → hỗ trợ thở ra, ho, nôn, tiểu tiện, đại tiện, sinh nở.

  • Bảo vệ và ổn định cột sống – khung chậu (đặc biệt quan trọng trong vận động, thể thao, phòng ngừa thoát vị).

  • Hỗ trợ vận động xoay và gập thân, nhưng yếu hơn so với cơ chéo ngoài và cơ chéo trong.

 

CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN CƠ NGANG BỤNG THƯỜNG GẶP

  • Yếu cơ ngang bụng có thể làm tăng nguy cơ thoát vị bẹn, thoát vị bụng.

  • Được xem là "cơ core" quan trọng → thường được tập luyện trong vật lý trị liệu và phục hồi chức năng đau lưng dưới.

  • Trong phẫu thuật bụng, bác sĩ thường rạch qua hoặc tách cơ ngang bụng khi tiếp cận các tạng bụng.

  • Trigger point: 

    • Thường xuất hiện ở vùng bụng trên, tập trung vào phần mõm mũi kiếm (xiphoid process) kéo dài xuống dưới thành bụng. Đặc biệt cơn ho sẽ làm tăng sự khó chịu.

    • Hình dạng cơn đau: vùng cạnh sườn: cơn đau từ dưới mép sườn lan tỏa tới vùng bụng trước; vùng trên khớp mu: thường lan tỏa tới phần giữa và dưới bộ phận sinh dục.

  • Thoát vị thành bụng: là tình trạng nhô ra bất thường của một cơ quan ra khỏi vị trí thông thường. Thành bụng trước và vùng bẹn là những nơi dễ xảy ra thoát vị nhất. Thường không thể phục hồi (không thể trở lại khoang bụng bởi áp lực), bị tắc nghẽn (do ruột bị tắc, dẫn đến táo bón và đau bụng), bị nghẹt (bị nét dẫn đến mất nguồn máu cung cấp).

  • Thoát vị thượng vị: xảy ra khi cơ của khu vực thượng vị bị yếu, dẫn đến một số cơ quan của vùng này như gan, dạ dày, tụy và tá tràng thoát ra ngoài qua đường trắng.

  • Tật nứt bụng: là một khuyết tật bẩm sinh trong đó trẻ sơ sinh được sinh ra với tất cả hay một phần ruột non nằm bên ngoài ổ bụng. Trường hợp này có thể được phát hiện thông qua siêu âm. Điều trị thường là phẫu thuật.

  • Thoát vị rốn: là một khiếm khuyết hiếm gặp của thành bụng trước, khi các lớp cơ không có khả năng đóng lại, dẫn đến tình trạng các nội quan bị giữ bên ngoài khoang bụng thành một túi.

  • Thoát vị bẹn: là tình trạng những cơ quan, thông qua khu vực yếu của ống bẹn để xuống bìu. Các triệu chứng gồm: phình một hoặc hai bên háng, tăng lên khi ho, cảm giác khó chịu hoặc đau, đặc biệt khi nâng vật nặng, cảm thấy đè nặng áp lực ở bẹn.