Cơ hoành (Diaphragm) là cơ hô hấp quan trọng nhất của cơ thể. Đây là một tấm cơ-gân hình vòm, ngăn cách khoanh ngực (chứa tim, phổi) với khoang bụng (chứa các tạng tiêu hóa).

Nguyên ủy

  • Phần ức: mặt sau của mỏm mũi kiếm (xiphoid process) xương ức.

  • Phần sườn: mặt trong của các sụn sườn thấp hơn và xương sườn thứ 7 – 12.

  • Phần thắt lưng: dây chằng cung trong và dây chằng cung ngoài, thân đốt sống L1 – L3, và dây chằng dọc trước 

Bám tận

  • Các sợi cơ lan rộng từ các nguyên ủy, hội tụ tại gân trung tâm của cơ hoành.

Dây thần kinh chi phối

  • Được điều khiển bởi dây thần kinh hoành phải và thần kinh hoành trái (phrenic nerves), gồm C3 – C5, một phần cơ hoành được điểu khiển bởi 6 dây thần kinh gian sườn cuối.

Chức năng

  • Hít vào (Chủ động): Khi cơ hoành co, vòm hoành hạ xuống làm tăng thể tích lồng ngực theo chiều dọc. Áp suất trong lồng ngực giảm xuống, kéo không khí vào phổi.

  • Thở ra (Thụ động): Khi cơ hoành giãn, nó trở lại hình vòm ban đầu, đẩy không khí ra ngoài.

  • Hỗ trợ các hoạt động gắng sức: Co cơ hoành giúp tăng áp lực ổ bụng, hỗ trợ việc rặn (khi đại tiện, sinh đẻ) hoặc khi ho, hắt hơi.

Cơ có hai mặt: Ngực và Bụng;

  • Mặt bụng tiếp xúc với thanh mạc của tim và phổi là màng cơ tim (pericardium) và màng phổi (pleura).

  • Trong khi mặt bụng tiếp xúc với gan, dạ dày và lá lách. Vì cơ cung cấp lối đi từ khoang ngực đến bụng, nên sẽ xuất hiện vài lỗ trên cơ: lỗ tĩnh mạch chủ, lỗ thực quản, và lỗ động mạch chủ. 

 

CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN CƠ HOÀNH THƯỜNG GẶP

Nấc cục:

  • Một rối loạn phổ biến nhất ở cơ hoành ảnh hưởng đến hầu hết mọi người là nấc cục, xảy ra do sự co thắt không tự chủ, không liên tục ở cơ.

  • Nguyên nhân thường do tiêu hóa một lượng lớn thức ăn trong khoảng thời gian ngắn

 

Thoát vị cơ hoành:

  • Là tình trạng thoát vị xảy ra ở lỗ thực quản, dạ dày có thể bị thoát vị vào trung thất sau (posterior mediastinum), gọi là thoát vị khe thực quản.

  • Thoát vị cơ hoành có thể là do bẩm sinh, xảy ra trong quá trình phát triển bất thường cơ hoành ở thai nhi. Các cơ quan trong khoang bụng có thể nhô lên phía khoang ngực, làm rối loạn sự phát triển của phổi, gây ra hàng loạt các vấn đề về phổi ở trẻ sau sinh.

  • Ngoài ra, thoát vị cơ hoành cũng có thể xảy ra do tác động của ngoại lực, chẳng hạn như chấn thương, va đập mạnh, có thể dẫn đến việc gãy xương. Cần phải tiến hành phẫu thuật để điều chỉnh lại cơ hoành. Thoát vị trên có thể được chia thành 3 giai đoạn:

    • Giai đoạn cấp tính: kéo dài từ thời điểm chấn thương ban đầu cho đến khi có dấu hiệu phục hồi rõ ràng, tuy nhiên vỡ cơ hoành thường bị bỏ sót vì những triệu chứng khác như sốc, suy hô hấp, chấn thương nội tạng hay hôn mê.

    • Giai đoạn tiềm ẩn: bắt đầu khi các phủ tạng khoang bụng chiếm chỗ và thoát vị lên khoang ngực.

    • Giai đoạn trở ngại: bắt đầu với các dấu hiệu tắc nghẽn nội tạng, thiếu máu cục bộ như những chứng thoát vị khác. Nếu thoát vị gây chèn ép đáng kể đến phổi, có thể dẫn đến tràn khí màng phổi. Chứng liệt cơ hoành cũng có thể xảy ra.