Cơ cánh tay (Brachialis muscle) là cơ gấp khuỷu chính, có hình thoi, rộng và ở khu cánh tay trước, cùng với cơ nhị đầu cẳng tay (biceps brachii muscle) và cơ quạ cánh tay. 

Đôi khi bị chia thành 2 phần và có thể hợp nhất với các sợi cơ của cơ nhị đầu, cơ quạ hoặc cơ sấp tròn. 

Nguyên ủy

  • Nửa dưới mặt trước xương cánh tay.

  • Vách gian cơ trong và ngoài.

Bám tận

  • Mào lồi củ xương trụ (Ulnar tuberosity) và mỏm vẹt xương trụ (coronoid process of ulna).

Dây thần kinh chi phối

  • Được điều khiển bởi dây thần kinh cơ bì (Musculocutaneous nerve, C5–C6)

  • Một phần được điều khiển bởi thần kinh quay (radius nerve), gồm C7.

Chức năng

  • Gấp cẳng tay tại khớp khuỷu (là cơ gấp mạnh nhất của khuỷu, bất kể tư thế ngửa hay sấp của cẳng tay).

  • Trong quá trình duỗi khớp khuỷu, cơ cánh tay sẽ ổ định chuyển động bằng cách thả lỏng với tốc độ đều. Ví dụ như hoạt động hạ tách trà từ từ xuống bàn một các cẩn thận.

 

CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN CƠ QUẠ CÁNH TAY THƯỜNG GẶP

  • Hiếm khi bị tổn thương đơn lẻ.

  • Có thể chèn ép thần kinh cơ bì nếu cơ phì đại hay xơ hóa.

  • Căng cứng, vôi hóa cơ quạ: Việc lạm dụng cơ quạ có thể dẫn đến cứng cơ, các nguyên nhân phổ biến thường do nâng tạ quá sức hoặc mang vác vật nặng. Triệu chứng điển hình là đau ở cánh tay và vai, lan xuống mu bàn tay.

  • Đau dây thần kinh cơ bì: trong những trường hợp nghiệm trọng hơn, dây thần kinh đi qua cơ quạ có thể bị mắc kẹt. Những bệnh nhân thường có cảm giác rối loạn cảm giác xúc giác ở phần xương quay của cẳng tay và yếu khi gấp ở khuỷu tay vì dây thần kinh điều khiển cơ nhị đầu và cơ cánh tay.

  • Rách, đứt cơ quạ hầu như ít xảy ra ngoài những tai nạn nghiêm trọng.